LÀNG TÔI VỚI BẾN ĐÒ QUÊ HƯƠNG VÀ BA CÁI TANG LÀNG
Quê hương tôi có bến đò mang tên làng, là bến đò Tuộc (nay là xã Phú Lương, huyện Đông Hưng, Thái Bình). Làng tôi cũng giống như những làng khác ở đồng bằng Bắc bộ là có “cây đa, bến nước, sân đình” mà mỗi khi đi xa, ai cũng nhớ về (nhưng rất tiếc, do biến động của lịch sử sau ngày miền Bắc giải phóng, nên hiện nay, các cây, cảnh trên chỉ còn trong ký ức của những người lớn tuổi!). Bến đò làng tôi nối hai bờ sông Tiên Hưng - một con sông dài 51 km, rộng từ 20 - 100 mét, bắt nguồn từ cửa Nhâm Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, chảy qua huyện Đông Hưng, đến xã Đông Tân, hòa vào hai sông Trà Lý và sông Diêm Hộ đổ ra biển. Đây là con sông ngắn, chỉ nằm gọn trong tỉnh, nhưng từng có những con thuyền căng buồm chở đầy hàng, lướt sóng xuôi dòng, thật đẹp và thơ mộng. Từ xa xưa, người dân quê tôi đã có câu:
“Sông Tiên Hưng nước chảy lững lờ,
Bên bờ rặng vải, bên bờ dâu xanh”.
Cho đến nay, vẫn không ai biết bến đò Tuộc được hình thành từ bao giờ, chỉ biết là đã từ lâu, bến đò nằm trên đường trục chính của huyện Đông Hưng, nối hai đường từ Quốc lộ 39, qua các làng Tăng, Bùi (xã Phú Châu), Khuốc (xã Phong Châu) và làng tôi, đến tỉnh lộ 217, nên nó đã trở thành phương tiện duy nhất đưa người dân làng tôi và một số làng bên cạnh qua sông lên huyện, xuống tỉnh. Bến đò và con sông từng chứng kiến cảnh những con người chờ đón, vui mừng khi gặp nhau và chia ly, buồn bã khi tạm biệt những người đi xa, ra chiến trường… Khi tới bến đò, muốn qua bên kia sông, chúng tôi thường gọi “Bác Truy ơi…”, còn khi về, chúng tôi gọi “Bác Điểm ơi…” (hai bác chở đò có nhà ở hai bên bờ sông), còn bình thường chúng tôi gọi một câu chung là:
- Đò ơi, cho chúng tôi sang đò với nào!
Và người ta không quên những kỷ niệm đi đò vào mùa Đông trời lạnh giá hay Tết đến, trời mưa dầm, gió Bấc, ngồi chờ đò trong thời bao cấp, áo quần mỏng manh, ẩm ướt, chân tay tê cóng, mọi người phải nép vào nhau hoặc nấp vào các bụi cây tránh gió, cho ấm! Nhớ những lần chờ lâu, trời sắp tối, người ta thường gọi đò liên tục, được ví “hối như gọi đò”. Nghe tiếng gọi đò kéo dài “đò ơi…ời, đò ơi…ời” thật buồn não nuột! Nhưng điều đó không buồn bằng vụ tai nạn xẩy ra trên sông, phía bên kia bến đò này! Làng tôi có ba vụ nhiều người chết được coi là “làng tang”. Đó là hai vụ do chiến tranh gây ra: ngày 16, tháng Chạp năm Quý tỵ, 1953 (tức 20-1-1954), Thực dân pháp cho máy bay nẻm bom vào làng tôi - một làng kháng chiến, thường xuyên có các cán bộ cấp trên về hoạt động - làm chết 26 người, trong đó, có một cán bộ Thị đội Thái Bình, còn lại là cán bộ và dân trong xã và hai ngày sau đó, 18 tháng chạp Quý Tỵ (21-1-1954), chúng tiến hành càn quét vào làng, 16 chiến sĩ du kích chiến đấu bảo vệ làng đã hy sinh! Đặc biệt, vụ thứ ba xẩy ra trước ngày miền Nam giải phòng 2 tháng, đó là ngày mồng 6 tháng Giêng năm Ất Mão, (tức 16 -2 - 1975), làng tôi tổ chức buổi lễ: “Mùa xuân tiễn quân lên đường nhâp ngũ”. Đi tiễn anh em, có khoảng 40 người thân và thanh niên trong xã. Họ đă lên chiếc thuyền riêng của Hợp tác xã, xuất phát từ bãi cỏ, cách bến đò khoảng 300 mét. Khi sang bên kia sông chỉ cách bờ bến đò khoảng 10 mét, thì mọi người tranh nhau lên phía trước, làm cho nước tràn vào, và đò chìm! Hôm đó, trời rất lạnh, những thanh niên trong xã bơi giỏi đã từ bên này sông bơi sang cứu vớt, nhưng cũng không cứu nổi. 23 người đã chết, trong đó, có một phụ nữ mang thai, một cựu chiến binh quân đội và một nữ sinh cấp III từng đoạt giải Nhất cuộc thi bơi lội của học sinh toàn tỉnh, do bị mấy người bám chặt nên đã chết ở cách bờ khoảng 5 – 6 mét. Trong đêm tối, mọi người đốt đèn ra bờ sông chờ đợi, tiếng kêu khóc dậy trời. Mặt sông phẳng lặng, những chiếc nón, túi nổi lềnh bềnh trên sông. Cảnh tang tóc, đau thương càng tăng lên mỗi khi những thi thể được thuyền câu đưa lên. Có những người với da mặt nhợt nhạt, tím tái vẫn còn nắm chặt tay, tóc nhau như không muốn rời nhau. bến đò này Họ được đưa về sân kho HTX khâm liệm. Cái “giỗ làng” thứ 3 gắn với bến đò ngày Tết cổ truyền và lần tiễn tân bình cuối cùng trước ngày giải phóng dân tộc thật buồn, đau không dứt!
Cách đây hơn hai chục năm, tỉnh tôi đã cho bắc chiếc cầu qua sông Rí, mở các tuyến đường ô tô về đến xã và phương tiện đi giao thông phát triển, nên ít người đi đò. Xã đã quyết định đóng cửa bến đò này. Vào cuối năm 2009, trong một chuyến về thăm quê, nhớ bến đò, tôi đã ra chụp ảnh và rất may mắn chụp được tấm ảnh bác Điểm chở khách cập bến. Đây là những tấm ảnh đầu tiên và cuối cùng về bến và con đò này, vì khoảng một tháng sau, đò ngưng hoạt động 8 năm sau, vào cuối năm 2017, tôi lại ghé thăm bến đò và gặp bác Điểm (tên thật là bác Nguyễn Thị Út). Bác kể: với 90 tuổi đời, trải qua 64 năm chở đò, chưa bao giờ bác để xẩy ra vụ tai nan chết người nào. Khi chở bộ đội qua sông bác không bao giờ lấy tiền. Trong những năm chiến tranh phá hoại miền Bắc, rất nhiều lần chở khách tới giữa dòng, thì có máy bay Mỹ bay tới, bác bảo mọi người ngồi yên và bác chở hết sức, nhanh chóng đưa con đò vào bờ an toàn, bời nếu chậm, nó bắn hoặc ném bom giữa dòng thì không ai thoát chết. Trên bến đò cũ giờ đây, xã đã xây dựng một trạm bơm nước, làm mất dấu tích bến đò và bờ bến bên kia, nơi có bác Truy chở đò trước đây, cũng đã bị bịt kín bởi một dãy nhà xây dài sát bờ sông.
Bến đò quê hương tôi đầy kỷ niệm năm nào, giờ đây, chìm trong ký ức, không bao giờ xuất hiện trên dòng sông thơ mộng năm xưa nữa! Và nơi đây, mãi mãi cũng không còn tiếng gọi tha thiết trong đêm khuya thanh vắng hay những ngày mưa dầm gió Bấc: “Đò ơi…Đò ời!” nữa….
Tác giả: Đoàn Việt

Nhận xét
Đăng nhận xét